NguyenTac.comNguyên Tắc
Lỗi, trách nhiệm và bồi thường

Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại: bị thiệt hại mà để mặc thì mất phần được đền

Người bị thiệt hại phải làm những việc hợp lý để thiệt hại không lớn thêm. Bài giải thích nghĩa vụ này trong và ngoài hợp đồng, chi phí ai chịu và giới hạn của nó.

A woman seen from behind dragging cardboard boxes away from water seeping under a storeroom door in Hai Phong, plastic buckets on the tiled floor, flat grey light

Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại buộc người bị thiệt hại phải áp dụng những biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc không lớn thêm; phần thiệt hại phát sinh vì không làm điều đó thì không được bồi thường. Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận nghĩa vụ này cả trong quan hệ hợp đồng lẫn trong bồi thường ngoài hợp đồng, và Luật Thương mại 2005 cũng có quy định cùng tinh thần cho hoạt động thương mại.

Nói cách khác, bị người khác gây hại không cho bạn quyền khoanh tay đứng nhìn thiệt hại phình ra rồi gửi hoá đơn cho họ. Đổi lại, những chi phí hợp lý bạn bỏ ra để ngăn thiệt hại thường được tính vào khoản được đền. Bài này giải thích ranh giới "hợp lý", ai chứng minh, và những tình huống thường gặp với hộ gia đình, cửa hàng, doanh nghiệp nhỏ.

Vì sao người bị hại lại có nghĩa vụ

Thoạt nghe, đặt nghĩa vụ lên vai người bị hại có vẻ ngược đời. Nhưng hãy nhìn từ góc độ người đứng gần thiệt hại nhất. Khi nước từ căn hộ tầng trên thấm xuống, người ở tầng dưới là người thấy đầu tiên, có thể ngắt điện, kê đồ lên cao, báo ngay cho hàng xóm. Người gây ra thiệt hại có thể đang đi vắng và không biết gì. Nếu luật cho phép người tầng dưới để mặc cho nước làm hỏng hết đồ đạc rồi đòi đền toàn bộ, thì tổng thiệt hại của xã hội tăng lên mà không ai được lợi.

Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại vì thế là cách luật khuyến khích hành động sớm của người có khả năng hành động nhất. Nó cũng gắn với nguyên tắc thiện chí: một bên không được lợi dụng vi phạm của bên kia để làm lớn chuyện. Đây không phải là sự trừng phạt người bị hại, mà là ranh giới giữa thiệt hại do hành vi của người khác gây ra và thiệt hại do chính sự thụ động của mình.

Đi kèm nghĩa vụ là một sự bảo đảm: chi phí hợp lý bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại được xem là một phần thiệt hại có thể đòi bồi thường. Người hành động sớm không bị thiệt, kể cả khi biện pháp của họ không thành công hoàn toàn, miễn là biện pháp ấy hợp lý tại thời điểm thực hiện.

Thế nào là biện pháp "cần thiết, hợp lý"

Đo bằng người bình thường trong hoàn cảnh đó. Câu hỏi không phải là "có cách nào tốt hơn không" mà là một người bình thường, có hiểu biết thông thường, ở đúng vị trí và thời điểm ấy, sẽ làm gì. Người bị hại không bị đòi hỏi phải hành xử như chuyên gia cứu hộ.

Chi phí phải tương xứng với thiệt hại tránh được. Thuê xe cẩu đắt tiền để cứu một món hàng giá trị thấp thường không hợp lý. Ngược lại, gọi thợ khẩn cấp ngoài giờ để chặn một đường ống đang rò vào kho hàng là hợp lý dù tiền công cao hơn ngày thường.

Không buộc chấp nhận rủi ro lớn cho bản thân. Người bị hại không phải lao vào đám cháy, leo lên mái nhà trong bão hay làm điều gì nguy hiểm tới tính mạng, sức khoẻ để cứu tài sản. Không làm những việc như vậy không bị coi là vi phạm nghĩa vụ.

Không buộc bỏ ra khoản tiền vượt khả năng. Nếu biện pháp hạn chế đòi một khoản chi lớn mà người bị hại không có, việc không thực hiện được thường được thông cảm. Nên lưu lại bằng chứng về việc đã báo cho bên gây thiệt hại và đề nghị họ ứng chi phí.

Thời điểm là yếu tố quan trọng. Biện pháp được đánh giá theo thông tin có vào lúc đó, không theo hiểu biết sau khi mọi chuyện đã rõ. Một quyết định hợp lý lúc nửa đêm vẫn hợp lý dù sáng hôm sau mới biết có cách rẻ hơn.

Ví dụ giả định trong đời sống và kinh doanh

Những tình huống dưới đây giúp thấy nghĩa vụ hạn chế thiệt hại hiện diện ở nhiều nơi hơn ta nghĩ. Tất cả đều là ví dụ giả định.

  • Thấm nước từ nhà bên. Chủ một cửa hàng tạp hoá ở Hải Phòng phát hiện nước thấm qua tường kho. Việc chuyển hàng lên kệ cao, ngắt điện khu vực ẩm, chụp ảnh, nhắn tin báo ngay cho nhà bên là hợp lý. Nếu biết mà để nguyên hàng dưới sàn suốt một tuần, phần hàng hỏng thêm trong tuần đó khó được bồi thường.
  • Đối tác giao nguyên liệu chậm. Một xưởng may biết chắc lô vải sẽ không về kịp. Tìm nguồn vải thay thế ở mức giá hợp lý để giữ đơn hàng thường là biện pháp được chờ đợi; phần chênh lệch giá có thể đòi bên giao chậm. Còn để dây chuyền đứng im rồi đòi toàn bộ lợi nhuận mất của cả đơn hàng sẽ bị xem xét lại.
  • Bên thuê bỏ nhà giữa chừng. Chủ nhà nhận lại mặt bằng sớm có thể phải tìm người thuê mới trong thời gian hợp lý thay vì để trống rồi đòi bên thuê cũ trả tiền thuê cho toàn bộ thời gian còn lại; cách tính cụ thể còn tuỳ hợp đồng.
  • Xe hỏng do va chạm. Người có xe bị hư hỏng đưa xe đi sửa ở nơi có giá phù hợp, không để xe ngoài trời mưa nắng nhiều tháng làm hỏng thêm, và chỉ thuê xe thay thế trong thời gian sửa hợp lý.
  • Bị lộ thông tin tài khoản. Người phát hiện thẻ ngân hàng bị dùng trái phép cần khoá thẻ, báo ngân hàng ngay; chần chừ nhiều ngày có thể làm phức tạp việc đòi lại phần tiền bị rút sau thời điểm đó.

Điểm chung: hành động sớm, ghi lại bằng chứng, báo cho bên có trách nhiệm, và giữ chứng từ mọi khoản chi.

Trong hợp đồng và ngoài hợp đồng: cùng một nguyên tắc

Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại xuất hiện ở hai mảng của luật dân sự với cùng tinh thần, chỉ khác bối cảnh và chứng cứ thường dùng.

Khía cạnhNgoài hợp đồngTrong hợp đồng
Người có nghĩa vụBên có quyền, lợi ích bị xâm phạmBên có quyền khi bên kia vi phạm nghĩa vụ
Hệ quả nếu không làmKhông được bồi thường phần thiệt hại do không áp dụng biện pháp cần thiết, hợp lýBên vi phạm có thể yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường tương ứng phần thiệt hại lẽ ra hạn chế được
Chi phí hạn chếChi phí hợp lý được tính là một phần thiệt hạiChi phí hợp lý thường được đòi cùng khoản bồi thường
Ví dụ giả địnhChe chắn nhà khi công trình bên cạnh gây đổ vật liệuMua hàng thay thế khi bên bán không giao
Chứng cứ nên giữẢnh, video, tin nhắn báo cho bên gây hại, hoá đơn chi phíVăn bản thông báo vi phạm, báo giá thay thế, chứng từ mua

Trong hợp đồng thương mại, các bên thường ghi thêm điều khoản về thông báo và hạn chế tổn thất. Đọc kỹ điều khoản này khi ký vì nó có thể đặt ra thời hạn thông báo cụ thể.

Ai phải chứng minh và chứng minh điều gì

Bên muốn giảm khoản bồi thường với lý do người bị hại không hạn chế thiệt hại là bên phải chứng minh. Họ cần chỉ ra rằng có một biện pháp cụ thể, hợp lý, khả thi vào thời điểm đó, và nếu được thực hiện thì một phần thiệt hại xác định đã tránh được. Nói chung chung "đáng lẽ phải làm gì đó" thường không đủ.

Phía người bị hại, cách bảo vệ tốt nhất là lưu dấu vết việc mình đã làm: giờ phát hiện sự cố, ảnh chụp trước và sau khi xử lý, tin nhắn hoặc cuộc gọi báo cho bên kia, hoá đơn thuê thợ, mua vật tư. Khi không làm được điều gì, ghi lại lý do: không liên lạc được bên kia, không có tiền ứng trước, biện pháp quá nguy hiểm.

Một chi tiết hay bị bỏ qua là thông báo. Báo sớm cho bên gây thiệt hại không chỉ là lịch sự mà còn trao cho họ cơ hội tự khắc phục, tự chọn thợ, tự chịu chi phí ngay từ đầu. Bên đã được báo mà không hành động thì khó lập luận rằng người bị hại đáng lẽ phải làm nhiều hơn.

Khi phát hiện mình đang bị thiệt hại: thứ tự xử lý

Trình tự dưới đây áp dụng được cho phần lớn tình huống tài sản, từ nhà ở tới cửa hàng. Với tình huống liên quan tới sức khoẻ, ưu tiên luôn là cấp cứu và an toàn con người.

  1. Bảo đảm an toàn cho người: ngắt điện, ga nếu cần, đưa người ra khỏi khu vực nguy hiểm.
  2. Chụp ảnh, quay video hiện trạng ngay khi có thể, trước khi di dời.
  3. Thực hiện biện pháp hạn chế đơn giản, ít tốn kém: che chắn, di dời đồ, khoá van, khoá tài khoản.
  4. Báo cho bên gây thiệt hại hoặc người quản lý liên quan bằng cách để lại dấu vết như tin nhắn; với chung cư thì báo cả ban quản lý.
  5. Nếu cần biện pháp tốn kém, đề nghị bên kia tự làm hoặc đồng ý chi phí; trường hợp khẩn cấp không chờ được thì làm và giữ chứng từ.
  6. Lập danh sách thiệt hại và chi phí đã bỏ ra, làm cơ sở cho việc thương lượng bồi thường sau đó.

Những việc này tốn ít thời gian nhưng thường quyết định bạn được đền bao nhiêu phần trăm thiệt hại khi ngồi vào bàn thương lượng.

Giới hạn: nghĩa vụ này không biến người bị hại thành người có lỗi

Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại hay bị viện dẫn quá đà trong thương lượng. Bên gây thiệt hại đôi khi lập luận rằng người bị hại "lẽ ra phải" mua bảo hiểm, "lẽ ra phải" lắp camera, "lẽ ra phải" kiểm tra hằng ngày. Những việc ấy là phòng ngừa chung, không phải biện pháp hạn chế một thiệt hại đã xảy ra hoặc đang xảy ra. Không làm chúng thường không làm mất quyền được bồi thường.

Nghĩa vụ cũng không đòi người bị hại phải hy sinh quyền lợi chính đáng khác. Ví dụ giả định: một cửa hàng bị công trình bên cạnh làm bụi bẩn không buộc phải đóng cửa vĩnh viễn để tránh thiệt hại; người có xe bị hỏng không buộc phải chọn nơi sửa rẻ nhất nếu nơi đó chất lượng kém hoặc ở quá xa. Hợp lý có nghĩa là cân bằng, không phải tối thiểu tuyệt đối.

Cuối cùng, nghĩa vụ hạn chế không chuyển trách nhiệm gốc. Bên gây thiệt hại vẫn chịu phần thiệt hại do hành vi của họ gây ra; nghĩa vụ hạn chế chỉ cắt phần thiệt hại tăng thêm do người bị hại thụ động. Khi hai bên thương lượng, nên tách bạch hai phần này để tránh tranh cãi lẫn lộn.

Câu hỏi thường gặp

Đã cố hạn chế thiệt hại nhưng không thành công thì có bị trừ phần bồi thường không?

Không, nếu biện pháp bạn chọn là hợp lý tại thời điểm thực hiện. Luật đánh giá sự hợp lý của việc làm chứ không đòi hỏi kết quả hoàn hảo. Chi phí đã bỏ ra cho biện pháp đó thường vẫn được tính vào khoản thiệt hại có thể đòi bồi thường.

Bên gây thiệt hại không chịu ứng tiền sửa chữa tạm thời thì người bị hại phải tự bỏ tiền ra không?

Nếu là biện pháp hợp lý và trong khả năng, bạn nên làm để tránh thiệt hại lan rộng rồi đòi lại chi phí sau. Nếu chi phí vượt quá khả năng, hãy lưu bằng chứng việc đã yêu cầu bên kia ứng tiền và họ từ chối, để sau này không bị coi là thiếu trách nhiệm.

Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại có áp dụng khi bị thương không?

Có, ở mức hợp lý. Người bị thương nên đi khám, điều trị theo chỉ định của cơ sở y tế. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp điều trị là quyền của người bệnh, và không ai bị buộc chấp nhận can thiệp y tế có rủi ro lớn chỉ để giảm khoản bồi thường cho người khác.

Chủ nhà để trống mặt bằng sau khi người thuê bỏ đi có bị coi là vi phạm nghĩa vụ hạn chế thiệt hại không?

Tuỳ hợp đồng và hoàn cảnh. Nếu hợp đồng có điều khoản riêng về chấm dứt trước hạn thì áp dụng điều khoản đó trước. Khi đòi thiệt hại vượt ra ngoài điều khoản ấy, việc chủ nhà có nỗ lực hợp lý tìm người thuê mới hay không thường được xem xét.

Thời gian bao lâu thì được coi là chậm trễ trong việc hạn chế thiệt hại?

Luật không đặt con số chung. Mức chậm được đánh giá theo tính chất thiệt hại: nước rò vào kho thì tính bằng giờ, giao hàng chậm thì có thể tính bằng ngày. Hợp đồng thương mại có thể quy định thời hạn thông báo cụ thể, nên đọc kỹ điều khoản đó.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.