NguyenTac.comNguyên Tắc
Lỗi, trách nhiệm và bồi thường

Giảm mức bồi thường khi thiệt hại vượt quá khả năng kinh tế: điều kiện và cách xin

Gây thiệt hại vì sơ suất mà số tiền vượt xa sức mình thì có thể xin giảm. Bài giải thích hai điều kiện, ai quyết định, chứng cứ cần có và giới hạn của quyền này.

Elderly man seen from behind sitting on the doorstep of a small tiled house in Nghe An, holding a plain folder on his knees, soft morning light, chickens in the yard

Người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được giảm mức bồi thường khi hội đủ hai điều kiện: mình không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý, và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Đây là một trong các nguyên tắc bồi thường được Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận, nhằm cân bằng giữa quyền được đền bù của người bị hại và thực tế rằng một lần sơ suất không nên đẩy một gia đình vào cảnh trắng tay suốt đời.

Quyền này thường bị hiểu sai theo hai hướng: người gây thiệt hại tưởng cứ nghèo là được giảm, còn người bị hại tưởng giảm mức là bị "ép" chịu thiệt. Bài dưới đây tách bạch từng điều kiện, ai có quyền quyết định, cần chuẩn bị chứng cứ gì, và vì sao giảm mức khác hẳn với việc khất nợ hay trả nhiều lần.

Vì sao luật cho phép giảm khi nguyên tắc là bồi thường toàn bộ

Nguyên tắc nền của bồi thường là thiệt hại thực tế phải được đền toàn bộ và kịp thời. Nếu chỉ áp dụng nguyên tắc ấy một cách cứng nhắc, sẽ có những tình huống mà phán quyết đúng về mặt con số nhưng không thể thực hiện được và để lại hậu quả xã hội nặng nề. Ví dụ giả định: một người làm thuê thu nhập thấp vô ý làm đổ thang, va vỡ tấm kính trưng bày đắt tiền của một cửa hàng. Thiệt hại có thể bằng nhiều năm thu nhập của người đó.

Buộc người này trả toàn bộ trong khi lỗi chỉ là sơ suất nhỏ sẽ khiến nghĩa vụ bồi thường trở thành án phạt kéo dài, trong khi luật dân sự không đặt ra để trừng phạt mà để đền bù. Giảm mức bồi thường vì thế là chỗ luật thừa nhận sự tương xứng giữa mức độ lỗi và gánh nặng phải chịu. Người cố ý gây thiệt hại không được hưởng sự tương xứng ấy, vì họ đã chủ động chọn gây hại.

Cũng cần thấy mặt kia: người bị thiệt hại không có lỗi gì mà lại nhận về ít hơn thiệt hại thực tế. Vì vậy quyền giảm mức chỉ là khả năng, không phải quyền đương nhiên, và người quyết định phải cân nhắc cả hoàn cảnh của người bị hại. Một cửa hàng nhỏ mất trắng tài sản cũng có thể khốn đốn không kém người gây thiệt hại.

Điều kiện thứ nhất: không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý

Lỗi cố ý loại trừ ngay khả năng giảm. Người biết rõ hành vi của mình gây thiệt hại mà vẫn làm, hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra, là có lỗi cố ý. Dù hoàn cảnh khó khăn tới đâu, họ không thuộc diện được giảm theo nguyên tắc này. Họ vẫn có thể thoả thuận với người bị hại để trả dần, nhưng đó là chuyện khác.

Lỗi vô ý là trường hợp điển hình được xem xét. Vô ý là không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại dù phải biết hoặc có thể biết, hoặc thấy trước nhưng tin rằng thiệt hại không xảy ra hay có thể ngăn được. Phần lớn sự cố đời thường như làm rơi đồ, quên khoá van, lùi xe không quan sát kỹ thuộc nhóm này.

Không có lỗi cũng được tính vào. Bộ luật Dân sự 2015 mở thêm khả năng giảm cho người phải bồi thường dù không có lỗi, như chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ hoặc chủ súc vật. Đây là điểm hợp lý: đã phải chịu trách nhiệm dù không sai thì càng nên được xét tới hoàn cảnh khi số tiền quá lớn.

Ai chứng minh mức độ lỗi. Người đề nghị giảm cần trình bày rõ diễn biến cho thấy mình không cố ý. Biên bản hiện trường, lời khai nhân chứng, camera, tin nhắn trao đổi ngay sau sự việc đều là chứng cứ. Nếu cơ quan có thẩm quyền đã có kết luận về lỗi trong hồ sơ hình sự hay hành chính, kết luận ấy thường được dùng làm căn cứ quan trọng.

Điều kiện thứ hai: "quá lớn so với khả năng kinh tế" được hiểu thế nào

Luật không đưa ra một tỷ lệ cố định kiểu "thiệt hại gấp bao nhiêu lần thu nhập thì được giảm". Đây là khái niệm để toà án đánh giá theo từng vụ. Cách đánh giá phổ biến là nhìn vào khả năng kinh tế cả trước mắt lẫn lâu dài của người gây thiệt hại: thu nhập đều đặn, tài sản đang có, người phụ thuộc phải nuôi, nợ đang gánh, rồi đặt cạnh tổng số tiền phải bồi thường.

Ví dụ giả định để thấy sự khác biệt: cùng làm vỡ một chiếc máy trị giá lớn, một chủ doanh nghiệp có nhiều tài sản và một sinh viên đi làm thêm sẽ ở hai vị trí hoàn toàn khác. Với người thứ nhất, số tiền có thể là một khoản chi lớn nhưng chịu được; với người thứ hai, đó có thể là món nợ không bao giờ trả hết. Điều kiện "quá lớn" nhắm tới tình huống thứ hai.

Khả năng kinh tế không đồng nghĩa với "đang không có tiền". Người có tài sản nhưng chưa muốn bán, hoặc có thu nhập ổn định nhưng muốn giữ cho chi tiêu khác, khó được coi là không có khả năng. Ngược lại, người không có tài sản đáng kể, thu nhập bấp bênh, đang nuôi con nhỏ hoặc cha mẹ già là những dữ kiện thường được cân nhắc.

Giảm mức, trả nhiều lần, miễn trách nhiệm: ba chuyện khác nhau

Trong thực tế, ba khái niệm này hay bị trộn lẫn. Đặt cạnh nhau sẽ thấy mỗi cái giải quyết một vấn đề khác và có điều kiện khác.

Tiêu chíGiảm mức bồi thườngTrả nhiều lầnKhông phải bồi thường
Bản chấtTổng số tiền phải trả nhỏ hơn thiệt hại thực tếTổng số tiền giữ nguyên, chia thành nhiều đợtKhông phát sinh nghĩa vụ bồi thường
Căn cứKhông có lỗi hoặc lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tếThoả thuận của các bên hoặc quyết định của toàBất khả kháng, lỗi hoàn toàn của bên bị thiệt hại, phòng vệ chính đáng… theo luật
Người bị thiệt hạiNhận ít hơn thiệt hạiNhận đủ nhưng chậm hơnKhông nhận được từ người này
Ai quyết định khi không thoả thuận đượcToà án hoặc cơ quan có thẩm quyềnToà án hoặc cơ quan có thẩm quyềnToà án hoặc cơ quan có thẩm quyền
Áp dụng với lỗi cố ýKhôngCó, nếu hai bên đồng ýTuỳ căn cứ miễn trừ cụ thể

Trong nhiều vụ, giải pháp hợp lý là kết hợp: giảm một phần theo nguyên tắc, phần còn lại trả nhiều lần. Hai bên càng sớm nói chuyện thẳng thắn về khả năng chi trả thì càng dễ đi tới con số cả hai sống được.

Đề nghị giảm mức bồi thường: trình tự hợp lý

Dù vụ việc còn đang thương lượng hay đã ra toà, đề nghị giảm cần được trình bày có căn cứ, tôn trọng người bị hại, và đi kèm chứng cứ. Trình tự sau phù hợp với phần lớn tình huống dân sự.

  1. Thừa nhận thiệt hại và bày tỏ thiện chí khắc phục ngay từ đầu; ứng trước khoản cấp bách nếu có thể, kể cả nhỏ.
  2. Làm rõ diễn biến cho thấy mình không cố ý: thu thập lời khai nhân chứng, hình ảnh, biên bản, tin nhắn.
  3. Chuẩn bị chứng cứ về khả năng kinh tế: xác nhận thu nhập, hợp đồng lao động, giấy tờ tài sản hoặc tình trạng không có tài sản, số người phụ thuộc, khoản nợ đang gánh, giấy tờ bệnh tật nếu có.
  4. Đề xuất cụ thể: mức có thể trả, trả một lần hay nhiều đợt, lịch trả; tránh chỉ nói chung chung "không có tiền".
  5. Nếu thương lượng không thành và vụ việc ra toà, nêu rõ yêu cầu giảm mức trong ý kiến gửi toà, kèm chứng cứ; toà sẽ đánh giá cùng các tình tiết khác.
  6. Sau khi có thoả thuận hoặc quyết định, thực hiện đúng lịch; khi hoàn cảnh thay đổi lớn, đề nghị điều chỉnh qua đúng đường chứ không tự ý ngừng trả.

Với thiệt hại liên quan tới sức khoẻ, tính mạng, hoặc khi người bị hại có hoàn cảnh cũng rất khó khăn, việc nhờ hoà giải viên hoặc luật sư giúp hai bên tìm phương án là cách giảm căng thẳng hiệu quả.

Góc nhìn của người bị thiệt hại

Nếu bạn là người bị thiệt hại và bên kia đề nghị giảm, phản ứng đầu tiên thường là thấy bất công. Điều đó dễ hiểu. Nhưng nên phân biệt giữa người đang thật sự không có khả năng và người lấy hoàn cảnh làm cớ. Bạn có quyền yêu cầu họ đưa ra chứng cứ về khả năng kinh tế, có quyền chỉ ra những tài sản hay nguồn thu họ chưa khai, và có quyền nêu hoàn cảnh của chính mình để toà cân nhắc.

Cũng nên tính thực tế: một bản án buộc trả toàn bộ nhưng người phải thi hành không có gì để thi hành thì trên giấy bạn thắng, ngoài đời bạn vẫn chưa nhận được đồng nào. Một thoả thuận giảm vừa phải nhưng có lịch trả rõ ràng, có người bảo lãnh hoặc tài sản bảo đảm, đôi khi mang lại nhiều tiền thực nhận hơn.

Ngoài ra, phần thiệt hại không được bồi thường từ người gây ra có thể còn được bù từ nguồn khác: bảo hiểm tài sản bạn đã mua, bảo hiểm trách nhiệm của bên gây thiệt hại, hoặc trách nhiệm của người thứ ba có liên quan như chủ sử dụng lao động. Rà lại các nguồn này trước khi chốt là việc nên làm.

Những tình huống nguyên tắc này thường không giúp được

Để tránh kỳ vọng sai, nên biết trước những hoàn cảnh mà đề nghị giảm mức bồi thường gần như không có cơ hội, hoặc phải đi đường khác.

  • Gây thiệt hại khi đã say rượu, dùng chất kích thích. Bộ luật Dân sự 2015 quy định người tự đặt mình vào tình trạng mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi rồi gây thiệt hại vẫn phải bồi thường; hoàn cảnh này khó được xem là lỗi vô ý đáng thông cảm.
  • Có tài sản nhưng đã tẩu tán. Việc chuyển tài sản cho người thân ngay sau sự việc để tỏ ra không có khả năng chi trả không những không giúp được mà còn có thể bị yêu cầu xem xét lại các giao dịch đó.
  • Thiệt hại không lớn so với khả năng. Một khoản tiền gây khó khăn tạm thời nhưng trả dần được trong thời gian ngắn thường được giải quyết bằng trả nhiều lần, không phải bằng giảm mức.
  • Bồi thường do Nhà nước hoặc theo luật chuyên ngành có cách tính riêng. Ở các mảng này, cách tính và thủ tục do luật chuyên ngành đặt ra, nên phải đối chiếu văn bản hiện hành thay vì viện dẫn nguyên tắc chung.
  • Đã có bảo hiểm trách nhiệm chi trả đủ. Khi bảo hiểm của người gây thiệt hại đủ bù thiệt hại, lý do về khả năng kinh tế không còn đặt ra cho phần do bảo hiểm trả.

Nói ngắn gọn, giảm mức bồi thường dành cho người thật sự sơ suất và thật sự không gánh nổi, không phải cho người muốn trả ít hơn. Trình bày trung thực về tài sản, thu nhập của mình là cách duy nhất để đề nghị có sức nặng.

Câu hỏi thường gặp

Người gây thiệt hại là sinh viên chưa có thu nhập thì có đương nhiên được giảm mức bồi thường không?

Không đương nhiên. Ngoài điều kiện về khả năng kinh tế, còn phải không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý. Toà án sẽ xem xét cả tài sản riêng nếu có. Với người chưa thành niên, trách nhiệm của cha mẹ hoặc người giám hộ được xác định theo quy định riêng về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường.

Có bị mất quyền xin giảm nếu đã ký giấy cam kết bồi thường toàn bộ không?

Cam kết tự nguyện có giá trị ràng buộc giữa các bên. Khi đã ký cam kết trả toàn bộ, việc đề nghị giảm lại phụ thuộc vào sự đồng ý của bên kia hoặc căn cứ để xem xét lại thoả thuận. Vì thế, nếu thấy số tiền vượt sức mình, nên nêu ngay khi thương lượng, trước khi ký.

Mức giảm thường là bao nhiêu phần trăm?

Luật không ấn định tỷ lệ. Mức giảm do các bên thoả thuận hoặc toà án quyết định dựa trên mức độ lỗi, quy mô thiệt hại, khả năng kinh tế của người gây thiệt hại và hoàn cảnh của người bị hại. Mỗi vụ một khác, nên các con số lan truyền trên mạng chỉ là ví dụ.

Người lao động làm hỏng máy móc của công ty có áp dụng nguyên tắc giảm mức này không?

Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động về bồi thường thiệt hại tài sản được Bộ luật Lao động 2019 điều chỉnh riêng, có cơ chế giới hạn mức bồi thường khi người lao động sơ suất. Nên đối chiếu quy định lao động hiện hành và nội quy lao động đã đăng ký của công ty.

Khi được giảm mức bồi thường thì phần thiệt hại còn lại của người bị hại có ai trả không?

Người gây thiệt hại không phải trả phần đã được giảm. Người bị hại có thể tìm bù từ các nguồn khác nếu có, như bảo hiểm tài sản của chính mình hoặc trách nhiệm của người khác liên quan tới sự việc. Nếu không có nguồn nào, phần đó là thiệt hại họ phải tự chịu.

Sau này người gây thiệt hại khá giả lên thì người bị hại có đòi lại phần đã giảm được không?

Bộ luật Dân sự 2015 cho phép yêu cầu thay đổi mức bồi thường khi mức cũ không còn phù hợp với thực tế. Việc có áp dụng được cho phần đã giảm hay không phụ thuộc vào nội dung thoả thuận hoặc bản án và đánh giá của cơ quan có thẩm quyền, nên cần hỏi người làm nghề khi gặp tình huống này.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.