Khi bên bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại, họ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của chính mình gây ra; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của họ thì bên kia không phải bồi thường. Đây là nguyên tắc chia trách nhiệm theo mức độ lỗi mà Bộ luật Dân sự 2015 áp dụng cả với thiệt hại ngoài hợp đồng lẫn khi vi phạm hợp đồng.
Nguyên tắc nghe đơn giản nhưng áp dụng thì không: làm sao biết mỗi bên lỗi bao nhiêu, ai phải chứng minh, và có phải cứ "mỗi người một nửa" cho xong. Bài này đi qua logic của nguyên tắc, cách đánh giá mức lỗi, những ví dụ giả định ngoài lĩnh vực giao thông, và cách cả hai phía chuẩn bị lập luận.
Logic gốc: không ai được đòi người khác đền cho sai sót của mình
Bồi thường thiệt hại dựa trên ý tưởng người gây ra thiệt hại phải gánh hậu quả. Nếu áp ý tưởng ấy một cách nhất quán, thì phần thiệt hại do chính người bị hại gây ra cũng phải do họ gánh. Không thể vừa bất cẩn vừa đòi người khác trả cho sự bất cẩn đó. Luật vì vậy tách thiệt hại thành các phần tương ứng với lỗi của từng người tham gia vào chuỗi sự việc.
Nguyên tắc này còn có tác dụng giữ cho mọi người tự cẩn trọng. Nếu biết rằng dù mình có sai bao nhiêu thì người kia vẫn phải trả toàn bộ, nhiều người sẽ chủ quan hơn. Ngược lại, khi phần lỗi của mình bị trừ ra khỏi khoản được đền, mỗi người có động lực chú ý tới an toàn của chính mình.
Cũng cần nói rõ: nguyên tắc này không đổ lỗi cho nạn nhân. Nó chỉ áp dụng khi có lỗi thật của bên bị thiệt hại, được chứng minh, và lỗi đó góp phần trực tiếp vào việc gây ra hoặc làm tăng thiệt hại. Việc người bị hại "đáng lẽ có thể cẩn thận hơn" một cách chung chung không đủ để trừ bớt khoản đền bù của họ.
Ví dụ giả định ngoài chuyện va chạm xe cộ
Giao thông là lĩnh vực có nhiều bài viết riêng. Dưới đây là những tình huống đời thường khác để thấy nguyên tắc chia lỗi vận hành rộng hơn nhiều so với đường phố.
- Sàn ướt có biển cảnh báo. Ví dụ giả định: quán cà phê vừa lau sàn, đặt cọc cảnh báo ở lối vào. Một khách đi vội vừa nhìn điện thoại vừa bước qua, trượt ngã. Quán có phần trách nhiệm vì sàn ướt, nhưng việc đã cảnh báo rõ và người khách không chú ý có thể khiến phần lỗi của khách được tính đáng kể.
- Gửi hàng đóng gói sơ sài. Ví dụ giả định: một chủ shop gửi hàng gốm qua nhà xe nhưng chỉ bọc một lớp giấy mỏng, không ghi hàng dễ vỡ. Nhà xe xếp hàng nặng đè lên. Hàng vỡ là do cả việc xếp hàng không cẩn thận và việc đóng gói không phù hợp, nên trách nhiệm thường được chia.
- Chủ nhà tự đục tường rồi thuê thợ khác. Ví dụ giả định: chủ nhà tự ý đục rộng một mảng tường, sau đó thuê thợ lắp đặt thiết bị nặng lên đúng chỗ đã yếu. Tường nứt. Thợ có thể có lỗi vì không khảo sát kỹ, nhưng việc chủ nhà làm yếu kết cấu trước đó là phần lỗi của chính chủ nhà.
- Khách vào khu vực cấm. Ví dụ giả định: một người vượt rào chắn để vào khu vực đang thi công và bị vật liệu rơi trúng. Nếu chủ công trình đã rào chắn, cảnh báo đúng cách, phần lỗi lớn thuộc về người vượt rào; nếu rào chắn sơ sài, trách nhiệm được chia lại.
Trong mọi ví dụ trên, câu hỏi không phải là "ai có lỗi" mà là "mỗi bên góp bao nhiêu vào thiệt hại". Câu trả lời phụ thuộc vào chứng cứ cụ thể của từng vụ.
Đánh giá mức lỗi: những yếu tố thường được cân nhắc
Hình thức lỗi. Lỗi cố ý nặng hơn lỗi vô ý. Một bên cố tình làm điều nguy hiểm, bên kia chỉ sơ suất, thì sự phân chia khó có thể ngang nhau.
Mức độ đóng góp vào thiệt hại. Hành vi nào là nguyên nhân chính, hành vi nào chỉ làm tăng thêm. Ví dụ, sàn ướt là nguyên nhân tạo ra nguy cơ, việc khách không nhìn đường là nguyên nhân làm nguy cơ thành hiện thực; cả hai đều quan trọng nhưng không nhất thiết bằng nhau.
Nghĩa vụ cẩn trọng của mỗi bên. Người kinh doanh, người làm nghề có nghĩa vụ cẩn trọng cao hơn với khách hàng so với nghĩa vụ của khách đối với bản thân. Một xưởng sửa chữa phải biết quy tắc an toàn trong xưởng hơn khách vãng lai.
Cảnh báo, chỉ dẫn đã có hay chưa. Cảnh báo rõ ràng, đặt đúng chỗ, đủ để người bình thường nhận biết thì làm tăng phần lỗi của người bỏ qua nó. Cảnh báo mập mờ hoặc đặt khuất thì giá trị thấp.
Năng lực nhận thức của bên bị thiệt hại. Trẻ nhỏ, người cao tuổi, người khuyết tật không thể bị đòi hỏi mức cẩn trọng như người trưởng thành bình thường. Đây là lý do việc gán lỗi cho trẻ em phải được xem xét rất thận trọng, đồng thời có thể đặt ra câu hỏi về trách nhiệm trông nom của người giám hộ.
Khi không đo được chính xác thì chia thế nào
Trong đời thực, hiếm khi có cách đo lỗi bằng con số chính xác. Cơ quan giải quyết thường đánh giá tổng thể rồi đưa ra một tỷ lệ hợp lý, chẳng hạn phần lớn thuộc về một bên, phần nhỏ thuộc về bên kia. Tỷ lệ này không phải phép tính khoa học mà là kết luận dựa trên chứng cứ, lý lẽ và kinh nghiệm xét xử.
Nhiều người tưởng rằng khi không xác định được thì mặc nhiên chia đôi. Quy tắc chia phần bằng nhau khi không xác định được mức độ lỗi được Bộ luật Dân sự 2015 ghi rõ cho trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại cho một người khác. Còn khi lỗi nằm ở cả người gây thiệt hại lẫn người bị thiệt hại, cách đánh giá vẫn xoay quanh câu hỏi phần thiệt hại nào do lỗi của ai, và kết quả có thể là bất kỳ tỷ lệ nào chứng cứ cho phép.
Với hai bên đang thương lượng, cách làm thực tế là cùng liệt kê những sự kiện đã rõ, những điểm còn tranh cãi, rồi thử đặt các tỷ lệ khác nhau để xem khoảng chấp nhận được của mỗi bên. Một tỷ lệ cả hai cùng thấy hơi thiệt một chút thường là dấu hiệu của thoả thuận sống được.
Trong hợp đồng và ngoài hợp đồng: nguyên tắc giống nhau, bối cảnh khác nhau
Bộ luật Dân sự 2015 áp dụng tinh thần chia lỗi ở cả hai mảng. Bảng dưới đây giúp nhận ra điểm chung và điểm riêng.
| Khía cạnh | Ngoài hợp đồng | Vi phạm hợp đồng |
|---|---|---|
| Quy tắc chung | Bên bị thiệt hại có lỗi thì không được bồi thường phần do lỗi của mình | Bên có quyền cũng có lỗi thì bên vi phạm chỉ bồi thường tương ứng với mức lỗi của mình |
| Ví dụ giả định | Khách trượt ngã ở quán đã có cảnh báo | Bên đặt hàng giao bản vẽ sai, bên gia công làm theo rồi giao chậm |
| Trường hợp miễn hoàn toàn | Thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại | Vi phạm hoàn toàn do lỗi của bên có quyền |
| Điều khoản thoả thuận | Ít khi có thoả thuận trước | Hợp đồng có thể đặt trước cách phân chia trách nhiệm, trong giới hạn của luật |
| Chứng cứ thường dùng | Hiện trường, camera, nhân chứng, cảnh báo đã đặt | Văn bản trao đổi, biên bản giao nhận, yêu cầu kỹ thuật |
Trong quan hệ hợp đồng, phần lỗi của bên có quyền thường thể hiện qua việc không cung cấp thông tin, không phối hợp, chậm duyệt, hoặc đưa ra chỉ dẫn sai. Ghi lại các trao đổi bằng văn bản là cách tốt nhất để sau này phân định.
Chuẩn bị lập luận về lỗi khi thương lượng hoặc ra toà
Dù bạn ở phía người bị thiệt hại hay người bị đòi bồi thường, việc chuẩn bị có hệ thống giúp cuộc trao đổi bớt cảm tính.
- Viết lại diễn biến theo trình tự thời gian, tách những gì có chứng cứ với những gì chỉ là cảm nhận.
- Thu thập chứng cứ về hành vi của từng bên: ảnh, video, tin nhắn, biên bản, lời xác nhận của người chứng kiến.
- Xác định nghĩa vụ cẩn trọng mà mỗi bên phải có trong hoàn cảnh đó: quy định an toàn, hợp đồng, nội quy nơi xảy ra sự việc.
- Chỉ ra hành vi nào góp vào thiệt hại và góp ở mức nào; tránh quy hết lỗi cho bên kia nếu chứng cứ không cho phép.
- Đề xuất một tỷ lệ có lý lẽ, kèm khoảng sẵn sàng điều chỉnh; ghi kết quả bằng văn bản khi thống nhất.
- Nếu không thống nhất được, cân nhắc hoà giải ở cơ sở hoặc nhờ luật sư đánh giá trước khi khởi kiện để biết khả năng thực tế.
Một lập luận thừa nhận phần lỗi nhỏ của chính mình thường thuyết phục hơn lập luận phủ nhận tất cả, vì nó cho thấy bạn tôn trọng sự thật.
Phân biệt lỗi của bên bị thiệt hại với những thứ trông giống lỗi
Không phải mọi hành vi của người bị thiệt hại đều là lỗi theo nghĩa pháp lý. Một người đi đúng phần đường của mình vào ban đêm không có lỗi chỉ vì ra đường muộn; một khách hàng đặt niềm tin vào lời tư vấn của người bán không có lỗi chỉ vì không tự kiểm tra lại mọi thông số kỹ thuật. Lỗi đòi hỏi một hành vi trái với mức cẩn trọng mà người bình thường trong hoàn cảnh đó phải có.
Cũng cần tách lỗi với rủi ro tự chấp nhận. Người tham gia một hoạt động thể thao có tiếp xúc, một chuyến đi dã ngoại vùng núi, chấp nhận một mức rủi ro thông thường của hoạt động đó. Nhưng chấp nhận rủi ro thông thường không có nghĩa là chấp nhận mọi thiệt hại do người tổ chức cẩu thả gây ra. Ví dụ giả định: người tham gia lớp leo núi bị thương vì dây đai hư hỏng mà đơn vị tổ chức không kiểm tra thì không thể bị coi là có lỗi chỉ vì đã đăng ký tham gia.
Cuối cùng, hành vi của người bị thiệt hại sau khi sự việc xảy ra, như không chịu đi khám, để hư hỏng lan rộng, thuộc về nghĩa vụ hạn chế thiệt hại hơn là lỗi gây ra thiệt hại. Hai nguyên tắc cùng dẫn tới việc giảm phần được bồi thường, nhưng câu hỏi đặt ra khác nhau: một bên hỏi ai làm thiệt hại xảy ra, bên kia hỏi ai để thiệt hại lớn thêm.
Câu hỏi thường gặp
Người bị thiệt hại có lỗi nhỏ thì có bị mất hết quyền đòi bồi thường không?
Không. Lỗi của bên bị thiệt hại chỉ làm giảm phần được bồi thường tương ứng với phần thiệt hại do lỗi đó gây ra. Chỉ khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của họ thì bên kia mới không phải bồi thường. Lỗi nhỏ thì phần bị trừ cũng nhỏ.
Ai phải chứng minh người bị thiệt hại có lỗi?
Bên muốn được giảm trách nhiệm vì cho rằng người bị thiệt hại có lỗi là bên phải đưa ra chứng cứ. Nếu chỉ khẳng định mà không có chứng cứ thì cơ quan giải quyết khó chấp nhận. Chứng cứ thường là hình ảnh, nhân chứng, cảnh báo đã đặt và các văn bản liên quan.
Trẻ em bị thương do tự leo trèo ở nơi công cộng thì có bị coi là có lỗi không?
Trẻ nhỏ chưa có đầy đủ khả năng nhận thức nên việc đánh giá lỗi phải rất thận trọng. Thay vì gán lỗi cho trẻ, câu hỏi thường được đặt ra là nơi đó có rào chắn, cảnh báo phù hợp hay không và người trông nom trẻ đã làm tròn trách nhiệm chưa.
Có thể thoả thuận trước trong hợp đồng rằng bên kia chịu toàn bộ thiệt hại dù mình có lỗi không?
Các bên được tự do thoả thuận về trách nhiệm trong giới hạn luật cho phép. Tuy vậy, điều khoản dồn toàn bộ hậu quả cho một bên kể cả khi bên kia cố ý gây hại, hoặc điều khoản bất lợi trong hợp đồng mẫu với người tiêu dùng, có thể bị xem xét về hiệu lực.
Đã có kết luận của công an về lỗi trong một vụ việc thì phần dân sự có phải theo đúng kết luận đó không?
Kết luận của cơ quan có thẩm quyền là chứng cứ quan trọng, thường được dùng khi xác định lỗi trong phần bồi thường. Tuy nhiên, toà án vẫn đánh giá toàn bộ chứng cứ trong vụ việc dân sự, và các bên có quyền trình bày thêm những tình tiết chưa được xem xét.
Không chịu sửa chữa thiệt hại ban đầu để nó lan rộng ra có bị coi là có lỗi không?
Bỏ mặc cho thiệt hại lan rộng trong khi có thể áp dụng biện pháp hợp lý để hạn chế là vấn đề của nghĩa vụ hạn chế thiệt hại, gần với nguyên tắc chia lỗi. Phần thiệt hại tăng thêm do không hạn chế thường không được bồi thường.