Lạm dụng quyền dân sự là khi một người dùng quyền mình thật sự có, nhưng dùng nó để gây thiệt hại cho người khác, để né nghĩa vụ của chính mình, hoặc để đạt một mục đích trái pháp luật. Điều 10 Bộ luật Dân sự 2015 cấm việc này, và cho phép toà hoặc cơ quan có thẩm quyền khác, tuỳ tính chất và hậu quả, không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền bị lạm dụng, buộc bồi thường nếu gây thiệt hại, và áp dụng chế tài khác do luật quy định.
Nghe thì lạ: đã có quyền thì sao lại bị từ chối bảo vệ? Câu trả lời nằm ở chỗ luật trao quyền cho một mục đích. Quyền sở hữu để bạn dùng và hưởng lợi từ tài sản của mình; quyền chấm dứt hợp đồng để bạn thoát khỏi một quan hệ không còn phù hợp; quyền khởi kiện để bạn được bảo vệ. Khi quyền bị bẻ sang phục vụ việc hại người, nó đi ra khỏi mục đích đó. Bài này giải thích nguyên tắc ấy qua các ví dụ giả định.
Ba dạng lạm dụng mà luật nhắc tới
Quy định về giới hạn việc thực hiện quyền dân sự nêu ba hướng sử dụng quyền bị cấm. Dạng thứ nhất là dùng quyền gây thiệt hại cho người khác: hành vi nằm trong phạm vi quyền nhưng mục đích hoặc hệ quả chủ yếu là làm hại ai đó. Dạng thứ hai là dùng quyền để vi phạm nghĩa vụ của mình: lấy một quyền làm lá chắn để khỏi phải làm việc mình đã cam kết. Dạng thứ ba là dùng quyền để thực hiện mục đích khác trái pháp luật.
Ba dạng này thường đan vào nhau trong thực tế. Một người cho thuê nhà dùng quyền kiểm tra nhà để ngày nào cũng vào làm phiền, nhằm ép người thuê tự bỏ đi trước hạn, vừa gây thiệt hại cho người thuê, vừa né nghĩa vụ để họ ở hết thời hạn đã cam kết.
Điểm chung của cả ba dạng là quyền vẫn được dùng đúng hình thức. Người bị cáo buộc lạm dụng thường nói câu quen thuộc: "đó là quyền của mình". Câu nói ấy đúng về mặt hình thức, và chính vì vậy luật mới cần một nguyên tắc riêng để nhìn vào mục đích và hệ quả, chứ không chỉ nhìn vào hình thức.
Dùng quyền bình thường hay lạm dụng: so sánh theo ví dụ giả định
Cùng một quyền có thể được dùng đúng hoặc bị lạm dụng. Bảng dưới đặt hai cách dùng cạnh nhau để thấy chỗ khác biệt.
| Quyền | Dùng bình thường | Có dấu hiệu lạm dụng |
|---|---|---|
| Quyền sở hữu nhà đất | Xây tường rào đúng ranh giới để bảo vệ tài sản | Xây bức tường cao bất thường sát cửa sổ nhà bên chỉ để che hết ánh sáng sau một lần cãi nhau |
| Quyền đòi nợ | Nhắc nợ, gửi văn bản, khởi kiện khi tới hạn | Gọi điện liên tục cho đồng nghiệp, người thân của con nợ để bêu riếu |
| Quyền chấm dứt hợp đồng theo điều khoản | Báo trước đúng thời hạn khi không còn nhu cầu | Chọn đúng ngày đối tác không thể tìm được ai thay để chấm dứt, nhằm ép họ chấp nhận giá mới |
| Quyền góp ý, phản ánh | Phản ánh chất lượng dịch vụ một cách trung thực | Đăng hàng loạt nhận xét sai sự thật để ép cửa hàng hoàn tiền |
| Quyền giữ tài sản bảo đảm | Giữ xe của khách chưa trả tiền sửa theo thoả thuận | Giữ cả giấy tờ không liên quan để gây sức ép đòi khoản khác |
Những ví dụ trên chỉ minh hoạ hướng suy nghĩ. Việc có phải lạm dụng hay không phụ thuộc vào toàn bộ hoàn cảnh, và nhiều hành vi trong cột phải còn có thể vi phạm những quy định khác, chẳng hạn về danh dự, nhân phẩm hay đời tư của người khác.
Những câu hỏi mà toà thường đặt ra
Mục đích chính của việc dùng quyền là gì. Người dùng quyền có lợi ích chính đáng nào không, hay lợi ích đó rất nhỏ so với thiệt hại gây cho người khác. Một việc làm mang lại cho mình chút ít nhưng gây hại lớn cho người khác là dấu hiệu đáng chú ý.
Có cách nào khác ít gây hại hơn không. Nếu cùng đạt được mục đích chính đáng mà có cách nhẹ nhàng hơn, việc cố tình chọn cách gây hại nhiều nhất cho thấy ý định không ngay thẳng.
Thời điểm và cách thức. Cùng một hành vi, làm vào lúc bình thường thì khác với làm đúng lúc bên kia yếu thế nhất. Thời điểm được chọn có chủ ý thường nói lên nhiều điều về mục đích.
Hệ quả thực tế. Thiệt hại cho người khác có thật và đáng kể không. Nguyên tắc không nhằm can thiệp vào những bất tiện nhỏ nhặt mà ai sống chung cũng phải chịu.
Cách hành xử trước và sau. Người dùng quyền có báo trước, có đề nghị phương án, có lắng nghe phản hồi không; hay im lặng chờ thời điểm rồi hành động dứt khoát. Sau khi bên kia phản đối, họ có điều chỉnh hay tiếp tục đẩy mạnh. Chuỗi hành vi này thường thuyết phục hơn bất kỳ lời giải thích nào về ý định, vì ý định thì không ai nhìn thấy, còn hành vi để lại dấu vết.
Hệ quả: không chỉ là bồi thường
Điều đặc biệt của nguyên tắc cấm lạm dụng quyền là hệ quả đầu tiên được nêu: toà hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền của người lạm dụng. Nói cách khác, người dùng quyền sai mục đích có thể mất chính sự bảo vệ của luật đối với quyền đó, ở mức tương xứng với hành vi.
Ví dụ giả định: một người cho thuê kho đòi phạt người thuê vì chậm trả mặt bằng một ngày, trong khi chính họ đã khoá cổng kho trước hạn, khiến người thuê không thể chuyển hàng ra đúng lịch. Yêu cầu phạt đó dựa trên một điều khoản có thật, nhưng toà khó bảo vệ một yêu cầu mà chính người đòi đã tạo ra tình huống vi phạm.
Ngoài việc không được bảo vệ, người lạm dụng quyền phải bồi thường nếu gây thiệt hại, và có thể chịu chế tài khác theo luật. Mức độ cụ thể tuỳ vào từng vụ việc; nguyên tắc chỉ mở cửa để toà xem xét, không đưa ra một mức xử lý cố định.
Những điều nguyên tắc này không làm
Vì nguyên tắc nghe có vẻ rộng, nó cũng dễ bị viện dẫn quá đà. Cần nhớ những giới hạn sau:
- Nó không cấm bạn dùng quyền một cách quyết liệt. Đòi nợ đúng hạn, kiện khi bị vi phạm, chấm dứt hợp đồng khi có căn cứ là chuyện bình thường, dù bên kia không vui.
- Nó không biến mọi thiệt hại của người khác thành lỗi của bạn. Cạnh tranh làm ăn khiến đối thủ mất khách là chuyện thường, không phải lạm dụng.
- Nó không thay thế các quy định cụ thể. Khi đã có điều luật trực tiếp điều chỉnh, toà áp dụng điều luật đó trước.
- Nó không cho phép bên bị thiệt tự xử lý. Nếu cho rằng ai đó lạm dụng quyền, bạn yêu cầu toà hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét, không tự áp đặt biện pháp trả đũa.
Trong tranh chấp, lập luận lạm dụng quyền thường đi kèm các căn cứ khác chứ hiếm khi đứng một mình. Nó có sức nặng nhất khi có chứng cứ rõ về mục đích gây hại, như tin nhắn đe doạ, thời điểm được chọn có chủ ý, hay việc từ chối các phương án ít gây hại hơn.
Khi nào nên nhờ người làm nghề luật
Lập luận về lạm dụng quyền đòi hỏi phải dựng được một câu chuyện có chứng cứ: bên kia có quyền gì, đã dùng quyền đó ra sao, mục đích thật là gì, thiệt hại là bao nhiêu. Đây là loại lập luận dễ nói nhưng khó chứng minh.
Nếu tranh chấp đã tới mức có văn bản đòi tiền, có thông báo chấm dứt, hoặc thiệt hại tính bằng số tiền đáng kể, bạn nên nhờ người làm nghề luật xem toàn bộ hồ sơ trước khi viện dẫn nguyên tắc này. Bạn cũng có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để được hướng dẫn bước đầu về việc nên thu thập chứng cứ nào.
Ở chiều ngược lại, nếu bạn là người đang dùng quyền và lo rằng mình bị coi là lạm dụng, câu hỏi tự kiểm khá đơn giản: mình đang làm việc này để bảo vệ lợi ích chính đáng nào, và có cách nào đạt được lợi ích đó mà ít gây hại hơn không.
Lạm dụng quyền trong hợp đồng và trong làm ăn
Nguyên tắc không chỉ áp dụng cho chuyện nhà cửa, láng giềng. Trong hợp đồng, nhiều quyền được ghi rõ: quyền kiểm tra, quyền tạm ngừng thanh toán, quyền yêu cầu sửa chữa, quyền từ chối nghiệm thu. Mỗi quyền đều có mục đích riêng, và mỗi quyền đều có thể bị dùng lệch.
Ví dụ giả định: hợp đồng thi công cho chủ đầu tư quyền từ chối nghiệm thu nếu công trình có lỗi. Một chủ đầu tư ở Đồng Nai liên tục từ chối nghiệm thu vì những lỗi rất nhỏ, mỗi lần một lỗi mới, trong khi vẫn đưa công trình vào sử dụng. Mục đích thực tế là trì hoãn thanh toán. Quyền từ chối nghiệm thu có thật, nhưng cách dùng như vậy đang phục vụ việc né nghĩa vụ trả tiền.
Một ví dụ giả định khác: bên cho vay có quyền yêu cầu trả nợ trước hạn khi bên vay vi phạm một điều kiện nhỏ trong hợp đồng. Bên cho vay im lặng suốt nhiều tháng dù biết vi phạm, rồi chọn đúng lúc bên vay đang cần vốn xoay vòng để đòi toàn bộ, nhằm ép bán tài sản bảo đảm với giá thấp. Ở đây cả thời điểm lẫn mục đích đều đáng xem xét.
Trong làm ăn, lập luận lạm dụng quyền thường đi cùng nguyên tắc thiện chí khi thực hiện và chấm dứt hợp đồng. Hai nguyên tắc bổ sung cho nhau: một bên nhìn vào cách hành xử nói chung, một bên nhìn vào cách sử dụng từng quyền cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Lạm dụng quyền có phải là vi phạm pháp luật không?
Có. Bộ luật Dân sự 2015 cấm lạm dụng quyền dân sự gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ hoặc thực hiện mục đích trái pháp luật. Hệ quả là quyền có thể không được bảo vệ, phải bồi thường nếu gây thiệt hại, và các chế tài khác theo luật.
Làm đúng hợp đồng thì có bị coi là lạm dụng quyền không?
Có thể, nếu cách thực hiện quyền theo hợp đồng nhằm mục đích chủ yếu là gây hại cho bên kia, chẳng hạn chọn thời điểm có chủ ý. Tuy vậy, việc làm đúng hợp đồng một cách bình thường, dù gây bất lợi cho bên kia, không phải là lạm dụng.
Ai có quyền quyết định một hành vi là lạm dụng quyền?
Theo quy định, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác xem xét căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi. Các bên có thể lập luận như vậy trong thương lượng, nhưng kết luận có giá trị bắt buộc thuộc về cơ quan giải quyết tranh chấp.
Hàng xóm dùng quyền của họ làm mình khó chịu thì có phải lạm dụng không?
Không phải mọi sự khó chịu đều là lạm dụng. Cần xem hàng xóm có lợi ích chính đáng không, thiệt hại cho bạn có đáng kể không, và có cách nào ít gây hại hơn mà họ cố tình không chọn. Những bất tiện thông thường của việc sống chung thường không đủ.
Chứng minh mục đích gây hại bằng cách nào?
Mục đích thường được suy ra từ hoàn cảnh: lời nói, tin nhắn, thời điểm hành động, việc từ chối phương án khác, lợi ích rất nhỏ so với thiệt hại lớn. Bạn nên ghi chép theo trình tự thời gian và giữ bản gốc của mọi trao đổi.