Cơ quan nhà nước và người thi hành công vụ chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, đúng thẩm quyền và đúng trình tự luật định. Đây là vế đối của nguyên tắc "người dân được làm những gì luật không cấm". Hai vế khác nhau vì vị thế khác nhau: người dân dùng tự do của mình, còn cơ quan nhà nước dùng quyền lực công, thứ có thể buộc người khác phải làm hoặc không được làm.
Hiến pháp 2013 yêu cầu Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Từ đó suy ra: mọi quyết định, yêu cầu hay hành động có tác động đến quyền và nghĩa vụ của người dân phải chỉ ra được căn cứ pháp lý. Bài này giải thích thẩm quyền gồm những lớp nào, thế nào là vượt quyền, và bạn nên ứng xử ra sao khi gặp một yêu cầu không rõ căn cứ, theo cách đúng mực và an toàn.
Vì sao hai vế lại ngược nhau
Tự do của người dân là mặc định vì nó thuộc về con người, không do ai ban phát. Còn quyền lực của cơ quan nhà nước là quyền được giao: luật giao cho cơ quan nào làm việc gì, trong phạm vi nào, theo cách nào. Ngoài phạm vi được giao, cơ quan không có quyền, dù mục đích có tốt đến đâu.
Lý do thực tế rất rõ: một cơ quan có thể phạt tiền, thu hồi giấy phép, cưỡng chế, từ chối cấp giấy tờ. Nếu cơ quan được làm mọi điều luật không cấm, người dân sẽ không thể đoán trước mình sẽ bị yêu cầu gì. Nguyên tắc "chỉ làm điều luật cho phép" giúp quyền lực có thể dự đoán được, và vì có thể dự đoán nên có thể kiểm soát qua khiếu nại, khởi kiện, giám sát.
Nguyên tắc này áp dụng cho mọi cấp: từ bộ, cơ quan ngang bộ tới Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân xã, phường sau sắp xếp chính quyền hai cấp từ 1/7/2025, và cả từng cán bộ, công chức khi thi hành công vụ. Nó cũng áp dụng cho những tổ chức được nhà nước giao thực hiện dịch vụ công trong phạm vi được giao.
Thẩm quyền gồm những lớp nào
Thẩm quyền về nội dung. Cơ quan chỉ được quyết định những việc thuộc lĩnh vực luật giao cho mình. Ví dụ giả định: cơ quan quản lý về đất đai không tự đặt điều kiện về an toàn thực phẩm cho quán ăn, dù quán ăn nằm trên đất do mình quản lý.
Thẩm quyền về lãnh thổ. Uỷ ban nhân dân một xã, phường chỉ quản lý trong địa bàn của mình. Sau sắp xếp năm 2025, nhiều địa bàn đã thay đổi ranh giới, nên với hồ sơ chuyển tiếp, bạn cần xem việc của mình nay thuộc nơi nào.
Thẩm quyền về cấp và chức danh. Luật thường giao thẩm quyền cho một chức danh cụ thể, chẳng hạn chủ tịch Uỷ ban nhân dân hoặc thủ trưởng cơ quan. Người khác chỉ được làm thay khi có giao quyền, uỷ quyền đúng quy định. Một cán bộ tiếp nhận hồ sơ không có quyền tự quyết định từ chối thay người có thẩm quyền giải quyết.
Thẩm quyền về thời gian. Có những việc cơ quan chỉ được làm trong một thời hạn, ví dụ thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Hết thời hạn, quyền đó không còn, dù hành vi là có thật.
Thẩm quyền về trình tự, hình thức. Có thẩm quyền rồi vẫn phải làm đúng thủ tục: lập biên bản khi luật yêu cầu, ra quyết định bằng văn bản, cho người liên quan trình bày ý kiến khi luật có quy định. Sai trình tự cũng là một dạng làm trái luật.
Dấu hiệu một yêu cầu có thể vượt thẩm quyền
Không phải mọi yêu cầu lạ đều sai luật, và người dân không có vai trò "phán xử" cán bộ. Nhưng có vài dấu hiệu cho thấy bạn nên hỏi lại căn cứ một cách lịch sự:
- Yêu cầu nộp thêm giấy tờ, xác nhận không có trong thành phần hồ sơ đã được công bố của thủ tục.
- Yêu cầu nộp một khoản tiền không có biên lai, không gọi được tên là thuế, phí hay lệ phí, hoặc gọi là "đóng góp" nhưng lại gắn với việc giải quyết hồ sơ.
- Yêu cầu được đưa ra bằng lời, không có văn bản, trong khi việc đó ảnh hưởng tới quyền của bạn như dừng kinh doanh, tháo dỡ, thu hồi.
- Người yêu cầu không xưng danh, không cho biết chức vụ, cơ quan, hoặc không xuất trình được quyết định giao nhiệm vụ khi việc đó cần có quyết định.
- Cơ quan yêu cầu không phải là cơ quan quản lý lĩnh vực liên quan, hoặc không phải nơi có thẩm quyền ở địa bàn của bạn.
- Lý do đưa ra là "theo chỉ đạo", "theo chủ trương" mà không gắn với một quy định có thể tra cứu được.
Một dấu hiệu chưa phải là bằng chứng vi phạm. Có những trường hợp quy định mới ban hành mà bạn chưa biết, hoặc có văn bản hướng dẫn hợp lệ. Vì vậy cách ứng xử đúng là hỏi căn cứ, chứ không phải từ chối hợp tác.
Ứng xử thế nào khi gặp yêu cầu không rõ căn cứ
Mục tiêu là làm rõ căn cứ và giữ bằng chứng, không phải đối đầu. Ví dụ giả định áp dụng cho một chủ cửa hàng nhỏ được yêu cầu nộp thêm một loại giấy xác nhận khi đăng ký thay đổi thông tin kinh doanh:
- Giữ thái độ bình tĩnh, lịch sự. Ghi lại tên, chức vụ người yêu cầu và thời điểm.
- Hỏi rõ yêu cầu này dựa trên quy định nào. Câu hỏi đúng mực: "Anh, chị cho biết giấy này được quy định ở văn bản nào để em chuẩn bị cho đúng?".
- Đối chiếu với thành phần hồ sơ đã công bố của thủ tục trên Cổng Dịch vụ công hoặc niêm yết tại nơi tiếp nhận.
- Nếu vẫn bị yêu cầu, đề nghị cơ quan hướng dẫn hoặc trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do. Các quy định về thủ tục hành chính yêu cầu từ chối phải có lý do bằng văn bản.
- Nếu cần giải quyết nhanh và giấy tờ đó không khó xin, bạn có thể vẫn nộp nhưng ghi nhận lại sự việc. Sau đó dùng kênh phản ánh, kiến nghị.
- Khi yêu cầu gây thiệt hại rõ ràng, hoặc đã có quyết định bằng văn bản, cân nhắc khiếu nại hoặc khởi kiện theo trình tự luật định.
Trong mọi trường hợp, không đưa tiền "cho nhanh", không ghi âm, ghi hình theo cách gây mất trật tự nơi làm việc, và không đăng tải thông tin công kích cá nhân cán bộ lên mạng. Những việc đó có thể khiến bạn từ người có lý trở thành người vi phạm.
Uỷ quyền, giao việc và "cấp trên chỉ đạo"
Trong bộ máy, không phải lúc nào người ký văn bản cũng là người có thẩm quyền gốc. Luật cho phép giao quyền, uỷ quyền trong những trường hợp và theo hình thức nhất định, thường phải bằng văn bản, có phạm vi và thời hạn. Người được uỷ quyền chỉ làm trong phạm vi được uỷ quyền và thường không được uỷ quyền lại cho người khác, trừ khi luật cho phép.
Với người dân, điều này có hai hệ quả. Một là văn bản do cấp phó, trưởng phòng ký thay vẫn có thể hợp lệ nếu có giao quyền đúng; không nên vội cho rằng sai chỉ vì người ký không phải người đứng đầu. Hai là "chỉ đạo của cấp trên" không phải là căn cứ pháp lý thay cho luật. Chỉ đạo hành chính có giá trị trong nội bộ để tổ chức công việc, nhưng không thể tạo ra nghĩa vụ mới cho người dân nếu luật không quy định.
Khi một yêu cầu được giải thích là "theo chỉ đạo", bạn có thể hỏi thêm chỉ đạo đó thực hiện quy định nào. Câu hỏi này không mang tính đối đầu; nó giúp cả hai bên quay về cùng một căn cứ.
So sánh hai vế của nguyên tắc
Bảng dưới đặt hai vế cạnh nhau để thấy chúng bổ sung cho nhau thế nào trong cùng một việc.
| Câu hỏi | Với người dân, doanh nghiệp | Với cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ |
|---|---|---|
| Điểm xuất phát | Tự do là mặc định | Không có quyền nếu luật không giao |
| Cần chứng minh gì | Bên muốn hạn chế phải chỉ ra điều cấm | Cơ quan phải chỉ ra căn cứ cho phép |
| Khi luật chưa nói tới | Được làm, trong giới hạn quyền của người khác | Không được tự đặt thêm nghĩa vụ cho người dân |
| Khi làm sai | Bị xử lý theo luật, bồi thường nếu gây thiệt hại | Quyết định có thể bị huỷ; Nhà nước có thể phải bồi thường; người làm sai bị xem xét trách nhiệm |
| Cách kiểm soát | Cơ quan quản lý, toà án | Khiếu nại, khởi kiện, giám sát, kiểm tra nội bộ |
Hai vế gặp nhau ở chỗ: người dân được tự do, nhưng khi nhà nước muốn hạn chế tự do đó thì phải dùng đúng công cụ luật trao, đúng người, đúng trình tự. Thiếu một trong các điều kiện đó, sự hạn chế không đứng vững.
Giới hạn của nguyên tắc: không phải mọi việc đều có điều luật riêng
Có người hiểu nguyên tắc này theo nghĩa quá hẹp: cái gì luật không ghi chi tiết thì cơ quan không được làm. Thực tế, luật thường giao cho cơ quan một nhiệm vụ chung, như quản lý trật tự đô thị hay bảo đảm an toàn giao thông, kèm theo công cụ cụ thể để thực hiện. Trong phạm vi nhiệm vụ đó, cơ quan có quyền chọn cách tổ chức công việc, miễn là không tạo thêm nghĩa vụ hay hạn chế quyền của người dân ngoài những gì luật cho phép.
Ví dụ giả định: Uỷ ban nhân dân phường tổ chức dọn vệ sinh kênh mương, bố trí lực lượng hướng dẫn giao thông giờ tan trường. Không cần một điều luật riêng cho từng việc như vậy, vì đó là việc thực hiện nhiệm vụ quản lý đã được giao. Nhưng nếu phường yêu cầu mỗi hộ phải nộp một khoản tiền cho việc đó mà không có căn cứ thu, thì đã chuyển sang đặt nghĩa vụ mới, và lúc này phải chỉ ra căn cứ.
Cách phân biệt đơn giản: hành động của cơ quan có buộc bạn phải làm, phải nộp, phải chịu điều gì không. Nếu có, hãy tìm căn cứ. Nếu không, đó thường là việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ và bạn không cần đòi một điều luật riêng.
Câu hỏi thường gặp
Cán bộ nói "luật không cấm cơ quan làm việc này" thì có đúng không?
Lập luận này không đứng được với việc đặt nghĩa vụ hoặc hạn chế quyền của người dân. Với cơ quan nhà nước, câu hỏi đúng là luật có cho phép không, không phải luật có cấm không. Tuy vậy, với việc tổ chức công tác nội bộ, không buộc người dân điều gì, cơ quan có phạm vi chủ động nhất định.
Văn bản ký thay, ký thừa uỷ quyền có giá trị không?
Có thể có giá trị nếu người ký được giao quyền hoặc uỷ quyền đúng quy định và trong phạm vi được giao. Người dân thường không cần kiểm việc giao quyền nội bộ, nhưng khi tranh chấp, đây là một điểm mà khiếu nại hoặc toà án sẽ xem xét.
Có được yêu cầu cán bộ xuất trình quyết định khi đến kiểm tra không?
Với những hoạt động mà luật yêu cầu phải có quyết định, như thanh tra hoặc một số loại kiểm tra, bạn có quyền đề nghị được xem quyết định một cách lịch sự. Đồng thời bạn vẫn nên hợp tác, cung cấp những gì được yêu cầu đúng phạm vi và ghi lại nội dung làm việc.
Cơ quan đã làm sai thẩm quyền thì quyết định đó có tự mất hiệu lực không?
Không tự mất. Quyết định vẫn được coi là có hiệu lực cho đến khi bị cơ quan có thẩm quyền sửa, huỷ hoặc bị toà án tuyên huỷ. Vì vậy người bị ảnh hưởng nên dùng đường khiếu nại hoặc khởi kiện trong thời hạn luật định, thay vì tự ý không chấp hành.
Nguyên tắc này có áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước không?
Khi doanh nghiệp nhà nước kinh doanh, ký hợp đồng như mọi doanh nghiệp khác, họ là chủ thể dân sự, áp dụng nguyên tắc của người kinh doanh. Chỉ khi một tổ chức được giao thực hiện chức năng quản lý hoặc dịch vụ công theo luật thì phần việc đó mới chịu giới hạn của quyền lực công.
Sau sắp xếp năm 2025, làm sao biết việc của mình thuộc cơ quan nào?
Bạn nên xem thông tin thủ tục trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc cổng của tỉnh, nơi ghi rõ cơ quan thực hiện, hoặc hỏi tại bộ phận một cửa của xã, phường hoặc Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh. Với hồ sơ nộp từ trước khi sắp xếp, hỏi nơi tiếp nhận về việc chuyển tiếp.