NguyenTac.comNguyên Tắc
Bình đẳng, nhân phẩm và đời tư

Bình đẳng trước pháp luật là gì: ba tầng nghĩa của nguyên tắc qua ví dụ đời thường

Bình đẳng trước pháp luật không có nghĩa ai cũng được đối xử giống hệt. Bài tách ba tầng nghĩa của nguyên tắc và chỉ ra khi nào khác biệt là chính đáng.

Wide shot of a public service hall in Da Nang, citizens of different ages waiting in one line on plastic chairs, seen from behind, soft morning light, teal tones

Bình đẳng trước pháp luật nghĩa là pháp luật áp dụng cho mọi người theo cùng một thước đo: ai có cùng hành vi trong cùng hoàn cảnh thì chịu cùng hệ quả, ai bị xâm phạm cũng được bảo vệ như nhau, và không ai đứng ngoài hay đứng trên luật vì tiền bạc, địa vị, giới tính, dân tộc hay nơi sinh ra. Hiến pháp 2013 ghi nguyên tắc này ngay trong chương về quyền con người: mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Điều hay bị hiểu sai là đồng nhất "bình đẳng" với "giống hệt nhau". Luật vẫn đối xử khác nhau giữa trẻ em và người lớn, giữa người có chức vụ và người dân thường, giữa người khuyết tật và người không khuyết tật. Bài này tách nguyên tắc thành ba tầng nghĩa, chỉ ra khi nào khác biệt là chính đáng và khi nào khác biệt đã thành bất bình đẳng.

Ba tầng nghĩa của cùng một câu

Tầng thứ nhất là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ do luật đặt ra. Khi luật trao một quyền, chẳng hạn quyền khởi kiện, quyền khiếu nại, quyền kinh doanh ngành nghề không bị cấm, thì quyền đó dành cho mọi người đáp ứng điều kiện chung, không dành riêng cho một nhóm được chọn. Nghĩa vụ cũng vậy: nghĩa vụ nộp thuế, tuân thủ quy tắc giao thông áp cho tất cả những ai rơi vào trường hợp luật mô tả.

Tầng thứ hai là bình đẳng khi áp dụng luật. Câu chữ có công bằng mà người thi hành mỗi nơi xử một kiểu thì nguyên tắc vẫn bị phá. Hai người cùng vượt đèn đỏ ở hai ngã tư khác nhau, cùng tình tiết, thì không thể một người bị lập biên bản còn người kia được bỏ qua vì quen biết. Tầng này đòi hỏi cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền xử lý những trường hợp giống nhau theo cách giống nhau.

Tầng thứ ba là bình đẳng trong sự bảo vệ của luật. Người nghèo bị lừa cũng có quyền được bảo vệ như người giàu bị lừa; người lao động thời vụ bị tai nạn cũng có quyền được bồi thường như nhân viên văn phòng. Tầng này ít được nhắc nhưng rất thực tế: nó là lý do một vụ việc nhỏ, giá trị thấp vẫn phải được thụ lý và giải quyết đúng thủ tục, không bị gạt sang bên vì "không đáng".

Ba tầng này đi cùng nhau. Một đạo luật viết bình đẳng nhưng thi hành thiên vị thì người dân vẫn chịu bất công; một cơ quan thi hành rất nghiêm nhưng điều luật tự nó loại trừ một nhóm người thì nguyên tắc vẫn bị vi phạm ngay từ gốc.

Bình đẳng không có nghĩa là đối xử giống hệt

Khác biệt dựa trên hoàn cảnh khách quan là chính đáng. Trẻ mười tuổi không tự ký hợp đồng mua nhà được, người lớn thì được. Đó không phải bất bình đẳng mà là luật tính đến khả năng nhận thức theo độ tuổi. Câu hỏi đúng không phải "có khác nhau không" mà là "sự khác nhau đó dựa trên lý do gì, lý do đó có liên quan thật tới việc đang xét không".

Ưu đãi có mục đích cho nhóm yếu thế không phá nguyên tắc. Luật dành cho người khuyết tật, đồng bào vùng khó khăn, lao động nữ đang mang thai những chính sách riêng. Các chính sách này nhằm kéo điểm xuất phát lại gần nhau, chứ không phải đặc quyền. Luật Bình đẳng giới 2006 nói rõ biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

Chức vụ kéo theo trách nhiệm nặng hơn, không phải miễn trừ. Người có chức vụ, quyền hạn vẫn chịu cùng luật với người dân, và trong nhiều trường hợp còn chịu thêm nghĩa vụ: kê khai tài sản, giải trình, chịu tình tiết tăng nặng khi lợi dụng chức vụ để vi phạm. Đó là chiều ngược của bình đẳng: quyền lực lớn hơn thì ràng buộc nhiều hơn.

Năng lực và điều kiện nghề nghiệp được phép phân loại. Bác sĩ phải có chứng chỉ hành nghề, tài xế xe khách phải có hạng bằng phù hợp. Đòi hỏi này áp cho mọi người muốn làm nghề đó, nên không trái nguyên tắc. Nó chỉ thành vấn đề khi điều kiện bị đặt ra để loại một nhóm người vì lý do không liên quan tới nghề.

Bình đẳng giữa người dân và người có quyền lực khi tham gia giao dịch

Một biểu hiện ít ai để tâm là: khi cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hay một tập đoàn lớn bước vào một quan hệ dân sự như thuê nhà, mua hàng, ký hợp đồng dịch vụ, họ đứng ngang hàng với bên kia. Bộ luật Dân sự 2015 mở đầu các nguyên tắc cơ bản bằng chính ý này: mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử, và được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

Ví dụ giả định: một đơn vị sự nghiệp công lập ở Bắc Ninh thuê nhà của bà Hạnh làm kho lưu trữ. Khi hết hạn, đơn vị chậm trả mặt bằng và đề nghị bà "thông cảm vì là cơ quan nhà nước". Trong quan hệ thuê nhà này, đơn vị chỉ là một bên thuê như mọi bên thuê khác. Bà Hạnh có đủ quyền đòi nhà, đòi tiền thuê cho thời gian chậm trả và giải quyết tranh chấp tại toà như với bất kỳ ai.

Điều ngược lại cũng đúng. Một doanh nghiệp nhỏ không vì yếu hơn mà được miễn nghĩa vụ đã cam kết với đối tác lớn. Luật có cơ chế riêng để bảo vệ bên yếu thế, như người tiêu dùng hay người lao động, nhưng cơ chế đó là ngoại lệ có căn cứ, không phải lý do để bên nhỏ phá hợp đồng tuỳ ý. Bình đẳng trong giao dịch có nghĩa là cả hai bên đều phải giữ lời.

Bình đẳng khi đứng trước toà và cơ quan giải quyết

Trong tố tụng, nguyên tắc bình đẳng hiện ra rất cụ thể. Các bên trong một vụ kiện có quyền ngang nhau trong việc đưa ra chứng cứ, xem tài liệu, trình bày ý kiến, tranh luận và kháng cáo. Thẩm phán không được nghe riêng một bên rồi quyết định, không được từ chối cho một bên trình bày vì cho rằng bên đó "rõ ràng là sai". Các bộ luật tố tụng đều ghi nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng.

Ví dụ giả định: trong một vụ tranh chấp hợp đồng giữa anh Phúc, chủ một xưởng mộc nhỏ ở Đồng Nai, và một công ty phân phối có bộ phận pháp chế riêng, công ty nộp hồ sơ dày, có luật sư đi cùng; anh Phúc tự trình bày. Bình đẳng không có nghĩa là toà làm thay phần việc của anh Phúc, nhưng toà phải bảo đảm anh được biết các tài liệu công ty nộp, được thời gian chuẩn bị, được giải thích quyền và nghĩa vụ của mình như mọi đương sự.

Bình đẳng trong tố tụng cũng giải thích vì sao có trợ giúp pháp lý miễn phí cho một số nhóm người, và vì sao người không biết tiếng Việt được quyền có người phiên dịch. Không có những cơ chế này, quyền trên giấy thì ngang nhau, còn khả năng dùng quyền ngoài đời thì chênh lệch quá xa.

Hiểu lầm thường gặp và cách hiểu đúng

Phần lớn tranh cãi về bình đẳng ngoài đời xuất phát từ việc trộn lẫn ba tầng nghĩa ở trên với ý muốn "ai cũng như ai". Bảng dưới đặt các cách hiểu phổ biến cạnh cách hiểu theo nguyên tắc.

Cách hiểu phổ biếnCách hiểu theo nguyên tắcVí dụ giả định
Bình đẳng là ai cũng được đối xử y hệtBình đẳng là trường hợp giống nhau xử giống nhau, trường hợp khác nhau được xử khác nhau theo lý do chính đángTrường học xếp lịch thi riêng cho học sinh khiếm thị, cho thêm thời gian làm bài
Ưu đãi cho nhóm nào đó là bất công với nhóm còn lạiƯu đãi có căn cứ luật, có mục đích thu hẹp khoảng cách, có giới hạn thì không trái nguyên tắcDoanh nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ khi tuyển nhiều lao động khuyết tật
Người có chức vụ thì được xử nhẹ hơnChức vụ không miễn trừ; lợi dụng chức vụ còn có thể là tình tiết nặng hơnCán bộ dùng xe công đi việc riêng gây tai nạn vẫn chịu trách nhiệm như người khác
Luật đã ghi bình đẳng thì không thể có phân biệtPhân biệt thường nằm ở khâu thi hành, ở tiêu chí ẩn trong quy chế nội bộQuy chế tuyển dụng đặt tiêu chí chiều cao cho vị trí làm việc văn phòng
Bình đẳng chỉ là chuyện giữa người dân và Nhà nướcNguyên tắc còn chi phối quan hệ giữa người với người: lao động, thuê nhà, phục vụ kháchChủ nhà trọ từ chối người thuê chỉ vì quê quán

Cột giữa có thể dùng như một phép thử nhanh. Khi thấy mình bị đối xử khác người khác, hãy hỏi: hai trường hợp có thật sự giống nhau không, và lý do của sự khác biệt có liên quan tới việc đang xét không.

Khi bạn nghĩ mình bị đối xử không bình đẳng

Cảm giác bị thiệt thòi chưa đủ để kết luận có vi phạm. Các bước dưới đây giúp bạn chuyển cảm giác thành lập luận có căn cứ, để trao đổi, phản ánh hoặc khiếu nại cho đúng chỗ.

  1. Ghi lại sự việc ngay khi còn nhớ rõ: ngày giờ, ai nói gì, lý do được đưa ra, giấy tờ được yêu cầu. Lời giải thích miệng thường thay đổi về sau.
  2. Tìm trường hợp đối chiếu: người khác ở cùng hoàn cảnh được xử thế nào. Không có trường hợp đối chiếu thì rất khó chứng minh bất bình đẳng ở khâu áp dụng.
  3. Hỏi rõ căn cứ: đề nghị người xử lý cho biết quy định nào được áp dụng. Với cơ quan nhà nước, việc nêu căn cứ là nghĩa vụ chứ không phải ân huệ.
  4. Xem lý do khác biệt có liên quan tới việc đang xét không: tuổi, giới, quê quán, tình trạng sức khoẻ chỉ được đem ra khi luật cho phép và khi nó thật sự ảnh hưởng tới việc.
  5. Chọn kênh phù hợp: trao đổi trực tiếp, phản ánh lên cấp quản lý, khiếu nại quyết định hành chính, hay khởi kiện dân sự. Mỗi kênh có thủ tục riêng; đối chiếu văn bản hiện hành hoặc hỏi người làm nghề trước khi nộp đơn.

Giữ giọng điềm tĩnh trong mọi bước. Lập luận dựa trên so sánh cụ thể và căn cứ luật thuyết phục hơn nhiều so với lời trách "phân biệt đối xử" chung chung.

Câu hỏi thường gặp

Bình đẳng trước pháp luật có áp dụng cho người nước ngoài ở Việt Nam không?

Hiến pháp 2013 dùng chữ "mọi người" cho nguyên tắc bình đẳng, nên người nước ngoài ở Việt Nam cũng được pháp luật bảo vệ và phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Tuy vậy, một số quyền gắn với tư cách công dân như bầu cử, hay một số ngành nghề, loại tài sản có điều kiện riêng cho người nước ngoài. Đó là phân loại do luật đặt ra, không phải phân biệt tuỳ tiện.

Ưu tiên cộng điểm thi cho học sinh vùng khó khăn có trái nguyên tắc bình đẳng không?

Không, nếu chính sách đó được đặt ra bằng văn bản có thẩm quyền, có mục đích thu hẹp khoảng cách điều kiện học tập và áp dụng thống nhất cho mọi học sinh đáp ứng tiêu chí. Bình đẳng không đòi hỏi bỏ qua hoàn cảnh xuất phát. Điều cần xem là tiêu chí có rõ ràng, có công khai và có được áp dụng đúng không.

Hai người vi phạm giống nhau mà bị xử khác nhau thì có phải luôn sai không?

Chưa chắc. Hai hành vi bề ngoài giống nhau có thể khác ở tình tiết: một người tái phạm, một người tự nguyện khắc phục hậu quả, một người gây thiệt hại lớn hơn. Luật cho phép cân nhắc các tình tiết đó. Chỉ khi tình tiết như nhau mà kết quả khác nhau không có lời giải thích thì mới có dấu hiệu bất bình đẳng.

Doanh nghiệp tư nhân có phải tuân theo nguyên tắc bình đẳng không, hay chỉ cơ quan nhà nước?

Doanh nghiệp tư nhân cũng chịu nhiều quy định cụ thể hoá nguyên tắc này: cấm phân biệt đối xử trong lao động, cấm phân biệt đối xử với người tiêu dùng trong một số trường hợp, nghĩa vụ đối xử bình đẳng với các cổ đông cùng loại cổ phần. Mức độ ràng buộc cụ thể nằm ở từng luật chuyên ngành.

Có được dẫn thẳng nguyên tắc bình đẳng trong Hiến pháp khi khiếu nại không?

Có thể viện dẫn để làm rõ tinh thần, nhưng hiệu quả hơn là tìm thêm quy định cụ thể của luật chuyên ngành đang áp dụng cho việc của bạn, như Bộ luật Lao động 2019 hay Luật Bình đẳng giới 2006. Cơ quan giải quyết thường căn cứ vào điều khoản cụ thể; nguyên tắc hiến định giúp bạn giải thích vì sao điều khoản đó phải được hiểu theo hướng nào.

Người có tiền thuê luật sư giỏi thì còn bình đẳng không?

Khả năng tài chính khác nhau là thực tế mà luật không xoá được. Nguyên tắc bình đẳng đòi hỏi thủ tục, quyền trình bày và cách đánh giá chứng cứ như nhau cho mọi bên, đồng thời Nhà nước tổ chức trợ giúp pháp lý cho một số nhóm người theo luật định. Bạn có thể hỏi về diện được trợ giúp pháp lý tại cơ quan tư pháp nơi cư trú.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.