Hiến pháp 2013 dành một chương cho quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, và mở chương đó bằng vài nguyên tắc chung: quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm; chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì những lý do được nêu cụ thể; quyền không tách rời nghĩa vụ; và mọi người bình đẳng trước pháp luật.
Bài này không bình luận chính trị hay đường lối, mà đọc các nguyên tắc ấy như một người cần dùng luật: chúng nói gì, khác nhau ở đâu, và đi vào đời sống qua những đạo luật nào. Từng quyền cụ thể như danh dự, đời tư, bình đẳng trong tuyển dụng được bàn kỹ ở các danh mục khác của trang.
Quyền con người và quyền công dân: hai khái niệm, hai phạm vi
Hiến pháp 2013 dùng song song hai cụm từ, và sự phân biệt này không phải chuyện chữ nghĩa. Quyền con người là quyền mà mọi người có được vì là con người, không phụ thuộc quốc tịch: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, đời tư. Người nước ngoài đang sống ở Việt Nam, trẻ sơ sinh chưa làm giấy tờ, người không quốc tịch đều có những quyền này.
Quyền công dân là quyền gắn với tư cách công dân Việt Nam, tức là gắn với quốc tịch. Ví dụ dễ thấy nhất là quyền bầu cử, ứng cử. Một số quyền khác cũng chỉ dành cho công dân hoặc dành cho công dân ở mức rộng hơn, tuỳ luật cụ thể quy định.
Cách Hiến pháp viết cũng phản ánh sự phân biệt này: nhiều điều bắt đầu bằng "Mọi người có quyền…", nhiều điều khác bắt đầu bằng "Công dân có quyền…". Khi đọc một quyền, chỉ cần nhìn chủ ngữ là biết nó áp dụng cho ai. Đây là thói quen đọc nhỏ nhưng tránh được nhiều hiểu lầm, nhất là với doanh nghiệp có người lao động nước ngoài hay chủ nhà cho người nước ngoài thuê.
Bốn nguyên tắc chung mở đầu chương quyền con người
Công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm. Nhà nước không "ban phát" quyền con người mà công nhận chúng; sau đó có nghĩa vụ tôn trọng (không tự mình xâm phạm), bảo vệ (ngăn người khác xâm phạm) và bảo đảm (tạo điều kiện để quyền thực hiện được). Bốn động từ này là bốn tầng trách nhiệm khác nhau.
Chỉ hạn chế theo luật và khi cần thiết. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng. Hai điều kiện đi cùng nhau: phải có luật, và phải cần thiết vì một trong các lý do đó.
Quyền không tách rời nghĩa vụ. Người hưởng quyền đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Việc thực hiện quyền không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Bình đẳng trước pháp luật. Mọi người bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội. Đây là gốc của rất nhiều quy định chống phân biệt đối xử trong luật lao động, giáo dục, tiêu dùng.
Chữ "theo quy định của luật" quan trọng thế nào
Trong nguyên tắc hạn chế quyền, cụm từ "theo quy định của luật" mang một ý nghĩa kỹ thuật: hạn chế quyền con người phải được đặt ra bằng luật, tức văn bản do Quốc hội ban hành, chứ không phải bằng bất kỳ loại văn bản nào. Đây là cách Hiến pháp giữ một hàng rào cao cho việc hạn chế quyền.
Với người thường, ý nghĩa thực tế là: khi gặp một yêu cầu hạn chế quyền của mình, chẳng hạn hạn chế đi lại, hạn chế kinh doanh, buộc cung cấp thông tin cá nhân, bạn có thể hỏi căn cứ của yêu cầu đó nằm ở luật nào. Hỏi như vậy là chính đáng, không phải đối đầu. Một yêu cầu có căn cứ rõ ràng thì người đưa ra yêu cầu cũng dễ giải thích.
Cũng cần hiểu cho đủ: luật có thể giao cho Chính phủ hay bộ, ngành quy định chi tiết cách thực hiện. Vì vậy không phải mọi quy định chi tiết đều nằm ngay trong luật. Câu hỏi đúng là "hạn chế này có gốc từ luật nào không", chứ không phải "câu chữ này có nằm trong luật không". Phân tích thứ bậc giữa các loại văn bản là chủ đề riêng về hệ thống văn bản pháp luật; ở đây chỉ cần nắm tinh thần: hạn chế quyền phải có gốc ở luật và phải có lý do thật sự cần thiết.
Quyền hiến định đi vào đời sống qua luật nào
Hiến pháp nêu quyền ở mức khái quát; các luật cụ thể mới quy định cách thực hiện, ai phải làm gì, vi phạm thì xử lý ra sao. Bảng dưới gợi ý vài cặp thường gặp, không phải danh sách đầy đủ.
| Quyền hoặc nguyên tắc trong Hiến pháp | Được cụ thể hoá chủ yếu ở | Bạn gặp nó khi |
|---|---|---|
| Bình đẳng, không phân biệt đối xử | Bộ luật Lao động 2019, Bộ luật Dân sự 2015, luật chuyên ngành | Đi xin việc, ký hợp đồng, dùng dịch vụ |
| Bất khả xâm phạm về thân thể; suy đoán vô tội | Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Hình sự 2015 | Bản thân hoặc người thân dính tới một vụ việc hình sự |
| Danh dự, nhân phẩm, đời tư, bí mật cá nhân | Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định về dữ liệu cá nhân | Bị đăng ảnh, lộ thông tin, bị bôi nhọ |
| Tự do kinh doanh trong những ngành nghề luật không cấm | Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư | Mở cửa hàng, thành lập doanh nghiệp |
| Quyền khiếu nại, tố cáo | Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo | Không đồng ý với một quyết định hành chính |
| Quyền sở hữu tài sản hợp pháp | Bộ luật Dân sự 2015, Luật Đất đai | Mua bán, thừa kế, tranh chấp tài sản |
Nhiều luật trong bảng đã sửa đổi nhiều lần, nên khi cần chi tiết bạn hãy đối chiếu văn bản hiện hành thay vì dựa vào trí nhớ hay tài liệu cũ.
Những hiểu lầm thường gặp về quyền hiến định
Vì Hiến pháp viết ngắn gọn, người đọc dễ suy ra những điều nó không nói. Vài hiểu lầm phổ biến:
- "Hiến pháp ghi quyền thì mình được làm mọi thứ liên quan." Quyền nào cũng đi cùng nghĩa vụ tôn trọng quyền người khác, và có thể bị hạn chế theo luật vì những lý do được Hiến pháp nêu.
- "Quyền con người chỉ dành cho công dân Việt Nam." Nhiều quyền áp dụng cho mọi người, kể cả người nước ngoài; một số quyền mới gắn với quốc tịch.
- "Cứ nhân danh lợi ích chung là hạn chế được quyền." Hạn chế phải có căn cứ ở luật và phải cần thiết vì một trong các lý do cụ thể, không phải bất kỳ lý do nào.
- "Bình đẳng nghĩa là ai cũng được đối xử giống hệt." Luật có những ưu đãi chính đáng cho nhóm yếu thế như trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi; đó không phải phân biệt đối xử.
- "Quyền hiến định chỉ là khẩu hiệu." Phần lớn quyền đã được cụ thể hoá thành nghĩa vụ rõ ràng trong các luật, có cơ chế khiếu nại, khởi kiện khi bị xâm phạm.
Quyền hiến định giữa người với người, không chỉ với Nhà nước
Một câu hỏi hay gặp: Hiến pháp nói về quan hệ giữa người dân và Nhà nước, vậy khi một doanh nghiệp, một chủ nhà hay một người hàng xóm xâm phạm quyền của mình thì Hiến pháp có liên quan không. Câu trả lời ngắn là có, nhưng thường đi qua một đạo luật trung gian.
Nghĩa vụ "bảo vệ" trong bốn động từ công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm chính là nghĩa vụ của Nhà nước phải đặt ra luật để ngăn người này xâm phạm quyền của người kia. Vì vậy Bộ luật Dân sự 2015 có các quy định về quyền nhân thân như quyền đối với hình ảnh, quyền được bảo vệ danh dự, bí mật đời tư; Bộ luật Lao động 2019 cấm phân biệt đối xử trong lao động; luật về người tiêu dùng bảo vệ khách hàng trước doanh nghiệp. Các quy định đó là cách quyền hiến định đi vào quan hệ giữa những người ngang hàng.
Ví dụ giả định: một chủ quán ở Nghệ An dán ảnh khách bị nghi lấy trộm đồ lên cửa kính kèm lời lẽ xúc phạm. Người bị dán ảnh không cần viện dẫn Hiến pháp để đòi gỡ; họ dựa vào quy định của Bộ luật Dân sự về quyền đối với hình ảnh và danh dự. Nhưng gốc của các quy định ấy nằm ở nguyên tắc hiến định về nhân phẩm và đời tư. Hiểu gốc giúp bạn biết mình đang đứng trên nền gì.
Đi cùng quyền là các nghĩa vụ cơ bản của công dân mà Hiến pháp cũng nêu, như tuân theo Hiến pháp và pháp luật, nộp thuế theo luật định. Đọc một chương quyền mà bỏ qua phần nghĩa vụ là đọc một nửa.
Đọc Hiến pháp như thế nào cho có ích
Bạn không cần đọc hết Hiến pháp một lần. Cách có ích hơn là đọc chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chú ý chủ ngữ của từng điều ("mọi người" hay "công dân"), và đánh dấu những chỗ có cụm "theo quy định của luật". Mỗi chỗ đó là một lời hẹn: sẽ có một đạo luật cụ thể hoá quyền này.
Khi gặp việc thật, hãy đi theo hai bước. Bước một, xác định quyền hoặc nguyên tắc hiến định nào liên quan, để biết hướng bảo vệ. Bước hai, tìm luật cụ thể hoá quyền đó và các văn bản hướng dẫn còn hiệu lực, vì cơ quan nhà nước và toà thường giải quyết việc cụ thể dựa trên các văn bản này.
Nguyên tắc hiến định giúp bạn hiểu vì sao các luật được viết theo một hướng nhất định: vì sao luật lao động cấm phân biệt đối xử, vì sao luật tố tụng đặt trách nhiệm chứng minh lên cơ quan tiến hành tố tụng, vì sao luật dân sự bảo vệ đời tư. Khi hiểu gốc, bạn ít bị lúng túng trước một quy định mới.
Câu hỏi thường gặp
Quyền con người khác quyền công dân ở điểm nào?
Quyền con người thuộc về mọi người vì là con người, không phụ thuộc quốc tịch. Quyền công dân gắn với tư cách công dân Việt Nam, ví dụ quyền bầu cử, ứng cử. Khi đọc Hiến pháp, chủ ngữ "mọi người" hay "công dân" cho biết quyền đó áp dụng cho ai.
Quyền con người có bị hạn chế không?
Có thể, nhưng Hiến pháp 2013 đặt điều kiện chặt: chỉ theo quy định của luật, và chỉ trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng. Hạn chế không đáp ứng các điều kiện này là không phù hợp với tinh thần Hiến pháp.
Người nước ngoài sống ở Việt Nam có được Hiến pháp bảo vệ không?
Những quyền mà Hiến pháp ghi là "mọi người có quyền" áp dụng cả cho người nước ngoài, như quyền được bảo vệ thân thể, danh dự, nhân phẩm. Một số quyền chỉ dành cho công dân. Mức độ cụ thể còn tuỳ các luật chuyên ngành về cư trú, lao động, đầu tư.
Có thể dựa thẳng vào Hiến pháp để yêu cầu cơ quan nhà nước làm gì đó không?
Bạn có thể nêu nguyên tắc hiến định trong đơn từ để làm rõ lập luận. Tuy vậy, trong thực tế cơ quan nhà nước và toà thường giải quyết việc cụ thể dựa trên luật và văn bản hướng dẫn cụ thể hoá quyền đó, nên bạn nên viện dẫn cả hai.
Ưu đãi cho người khuyết tật có trái nguyên tắc bình đẳng không?
Không. Bình đẳng trước pháp luật không có nghĩa là đối xử giống hệt nhau trong mọi hoàn cảnh. Luật có những chính sách hỗ trợ chính đáng cho nhóm yếu thế để họ thực hiện được quyền của mình; điều bị cấm là phân biệt đối xử không có lý do chính đáng.
Quyền đi kèm nghĩa vụ nghĩa là gì trong đời thường?
Nghĩa là khi bạn dùng quyền của mình, bạn vẫn phải tôn trọng quyền của người khác và lợi ích chung. Ví dụ quyền tự do kinh doanh không cho phép lấn chiếm lối đi chung hay gây ô nhiễm làm hại hàng xóm.